Cung Mệnh trong Tử Vi là gì?

Cung Mệnh trong Tử Vi là gì?

Cung Mệnh thuộc Âm, là vô hình. Cung Mệnh là nhân tố chủ yếu để quyết định các đặc điểm về dung mạo, tính cách, tài năng, sự thành bại cuộc đời của một con người, tiếp đó là mối quan hệ với cha mẹ, con cái, vợ chồng, bạn bè. Là đầu mối then chốt của 11 cung còn lại. Sự cát hung của các sao trong cung Mệnh được thể hiện ra là một trong những yếu tố quan trọng để suy đoán quá trình vận mệnh cả đời người. Tương tự, sự tốt hay xấu của các sao trong cung mệnh đại hạn, cung mệnh năm hạn, cũng là điều cần thiết quyết định sự tốt xấu của thời gian vòng đại hạn và năm hạn đó. Cung Mệnh là cung Tài Bạch của cung Quan Lộc. Bởi vậy, cung Mệnh thể hiện khả năng quản lý tiền bạc, cung can của cung Mệnh (chú ý: không phải can của năm sinh) dẫn đến ngày, tháng, năm phát tài của sao Hóa Kị, quyết định tiền tài của người đó khi nào bị tổn hại. Nếu Vũ Khúc, Văn Khúc miếu vượng, và từ phía phải trái hai bên nằm sát cung Mệnh thì vẫn thể hiện năng lực hỗ trợ tương quan với nhau. (Chú ý: Ông Vương Đình Chi thuộc phái Trung Châu cho rằng: trong trường hợp nàychỉ dùng để chỉ vị trí cung Mệnh tại hai cung Sửu, Thìn và cung Sửu thường gặp hơn.)

Những người có các sao trong tứ sát tinh nhập vào cung Thân, Mệnh thì không thể tránh khỏi mặt mày hốc hác, vàng vọt. Nếu nữ mệnh có tứ sát, Không, Kiếp, Thiên Hình, Thiên Diêu, Xương, Khúc, Hàm Trì, Hóa Kị trong đó có 4-5 loại sao này cùng đồng thời tọa tại cung Mệnh thì người này có xu hướng lăng nhăng, dâm loạn. Nếu can cung của cung Mệnh dẫn tới chính tinh trong cung Thiên Di là sao Hóa Lộc, thì người này muốn đi xa nhà đến nơi khác hoặc có khả năng xuất ngoại.

Nếu cung Mệnh rơi vào tứ mã chi địa (Dần, Thân, Tỵ, Hợi) thì người này vất vả, sự nghiệp thay đổi lớn, thường buôn ba ở nước ngoài. Nếu trong cung mệnh có sao hóa kị lạc hãm, người này sẽ đi ra ngoài. Trong đó nếu tại 4 cung này (tức Dần- Thân- Tỵ- Hợi) có 2 lọai chủ tinh, thì người này sẽ làm đồng thời hai công việc khác nhau hoặc có 2 sự nghiệp. Nếu như đại hạn hoặc năm hạn lạc tại vị trí của 4 cung này, mà trong cung lại có các sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Xương, Khúc, Lộc Tồn, Hóa Lộc…thì sẽ gặp may mắn, người đó trong thời gian này tiền tài đi lên hoặc có thêm con.

Nếu cung Mệnh hoặc cung Thiên Di lạc tại tứ bại chi địa (Tý- Ngọ – Mão- Dậu), thì người này thích kết giao bạn bè, thích vui chơi, hay gặp may mắn, thích đi du lịch. Nếu cung Mệnh lạc tại tứ mộ chi địa (Thìn- Tuất- Sửu- Mùi) thì người này có lục thân hình khắc, nên đi ra ngoài để phát triển. Trong đó, do Thìn là “Thiên la”, Tuất là “Địa võng”, cung Mệnh lạc tại cung Thìn-Tuất thì người đó cả đời vất vả, phải lập nghiệp ở nơi xa quê hương bản quán. Nếu lại có các sao Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ, Thiên Lương… nhập vào mệnh thì môi trường hoàn cảnh sống của người này luôn luôn thay đổi, biến động trong suốt cuộc đời, công việc thường phải đi xa hoặc giao thương buôn bán với người phương xa. Nếu Đại Hạn hoặc Lưu Niên lạc tại vị trí của 4 cung này, mà trong 4 cung này lại có các sao: Liêm Trinh, Thất Sát, Dương, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Hóa Kị, Thiên Thương, Thiên Sứ… thì người đó trong giai đoạn này không gặp may mắn. Nếu can cung của cung Mệnh dẫn tới chính tinh trong cung Thiên Di là sao Hóa Kị, thì người này sẽ xuất ngoại hoặc đi làm ăn xa, lại có thêm sao thiên mã thì càng ứng nghiệm. Khi suy đoán mệnh, nếu trong cung mệnh không có 28 vị sao chính tinh hạng nhất (14 chính tinh, 6 sao cát tinh, 6 sao hung tinh, Lộc Tồn, Thiên Mã)
thì suy đoán dựa vào các sao ở cung đó, khi đó cát thì giảm một nửa, hung lại tăng thêm hung (tham khảo thêm: “Mệnh cung vô chính tinh”).

Tuy nhiên nhiều người có tính keo kiệt, rất coi trọng tiền tài vật chất, nhẹ thì tính toán chi li, nặng thì đến đâu gặp ai cũng so bì thiệt hơn, không phóng khoáng với mọi người, vì vậy gây ra sự phản cảm. Nếu trong Đại Hạn hoặc Lưu Niên có sao bắc đẩu tinh (tức 6 sao: Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh) tọa thủ, điềm lành, may mắn do các sao này mang tới và sự ảnh hưởng của điềm dữ đều sẽ gia tăng mức độ mạnh mẽ. Nếu trong Đại Hạn hoặc Lưu Niên có sao nam đẩu tinh (tức 8 sao: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân) tọa thủ, điềm lành, may mắn do các sao này mang tới và sự ảnh hưởng của điềm dữ đều sẽ giảm nhẹ. Nếu trong cung Mệnh có 1 trong các sao: Văn Khúc, Hữu Bật, Thiên Việt, Hàm Trì, Thiên Diêu, Mộc Dục, Hóa Lộc, Không, Kiếp, Thiên Mã hoặc có nhiều hơn một sao kể trên là thể hiện trạng thái của sao đào hoa. Khi tam phương tứ chính của cung Mệnh có sao Thái Dương, Thái Âm thì cũng thể hiện tính chất của sao đào hoa. Tam phương tứ chính của cung Mệnh có Văn Xương (Văn Khúc), Hóa Khoa hoặc cung Mệnh có Lộc, Quyền, Khoa hoặc người ở cung Thiên Di tới tam hợp cung có Lộc, Quyền, Khoa, hoặc trong cung Mệnh có sao Lộc Tồn hoặc sao Hóa Lộc, Thiên Di tới tam hợp cung có Văn Xương, Văn Khúc hoặc Hóa Khoa thì người này năng lực đạt tới trình độ đại học.

Khi cung Mệnh, cung Phụ Mẫu, cung Tật Ách có các sao sát tinh thì những người này mắc nhiều bệnh, tàn tật hoặc thậm chí có thể chết sớm. Giữa cung Mệnh và cung Thiên Di có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, mối
quan hệ giữa hai cung này là: cung Mệnh biểu thị tính chất hiện tại, quê hương bản địa, bản thân con người mình còn cung Thiên Di thể hiện cách nhìn nhận của tương lai, nơi khác, người khác đối với bản thân người đó. Nếu cung Mệnh tốt hơn cung Thiên Di, thích hợp với việc ở tại quê hương phát triển sự nghiệp, ngược lại sẽ phát triển sự nghiệp hơn nếu đi xa. Nếu trong cung Mệnh và cung Thiên Di đều có sao chính tinh Hóa Kị, người này bản thân không nhất thiết phải gặp nguy hiểm, nhưng sẽ luôn bận rộn, không có lúc nào nhàn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *